Họ cũng biết cách kiểm tra xem liệu quá trình triển khai dự án có đang bám sát kỳ vọng của mình không

Họ cũng biết cách kiểm tra xem liệu quá trình triển khai dự án có đang bám sát kỳ vọng của mình không. Từ đây họ xác định được liệu mình có xu hướng quá lạc quan hay quá bi quan, mình thường kỳ vọng kết quả quá sớm hay quá muộn, mình hay nghiêng về chiều hướng ước lượng quá cao hay quá thấp tầm ảnh hưởng của một dự án nghiên cứu thành công. Qua đó, họ phát hiện ra đâu là điểm mạnh, điểm yếu trong thói quen đánh giá của mình. Một cơ chế phản hồi kiểu này là nhân tố bắt buộc không chỉ trong nghiên cứu và phát triển kỹ thuật nói riêng, mà còn trong mọi nỗ lực đổi mới nói chung.

14-6b2f1

Họ cũng biết cách kiểm tra xem liệu quá trình triển khai dự án có đang bám sát kỳ vọng của mình không

Trước hết cơ chế chỉ ra các khu vực ta đang làm tốt. Đôi khi ta không biết tại sao mình làm tốt ở khu vực này hay khu vực kia, nhưng điều đó không quá quan trọng, ta vẫn có thể tiếp tục duy trì điểm mạnh của mình. Sau đó cơ chế nhận diện các mặt chưa tốt: chẳng hạn, một xu hướng ước lượng quá sớm hoặc quá muộn thời hạn hoàn thành dự án, một xu hướng ước lượng quá nhiều hoặc quá ít số tài nguyên cần thiết trong khâu phát triển thành quả nghiên cứu thành sản phẩm, quy trình thực tế. Rất nhiều doanh nghiệp mắc phải một hạn chế vô cùng tai hại, đó là xu hướng giảm bớt nỗ lực marketing và quảng cáo cho hoạt động kinh doanh mới đúng vào lúc nó chuẩn bị ra mắt thị trường.

Một trong những ngân hàng lớn thành công nhất thế giới cho biết, nó có được vị trí như ngày hôm nay là nhờ thói quen cài đặt cơ chế phản hồi vào mọi nỗ lực của mình, dù trong việc bước chân vào thị trường mới, chẳng hạn như Hàn Quốc, trong cho thuê trang thiết bị, hay trong phát hành thẻ tín dụng. Thông qua cơ chế phản hồi từ kết quả đến kỳ vọng, ngân hàng và ban quản lý tối cao biết phải kỳ vọng những gì từ một hoạt động kinh doanh mới: Khi nào ta có thể kỳ vọng dự án này cho kết quả? Khi nào ta nên rót thêm nỗ lực và tài nguyên vào nó?